Thư viện

Nội dung RSS
Đã cập nhật: 2 năm 17 tuần trước

Du lịch sinh thái vùng Đồng bằng sông Cửu Long

T6, 20/01/2017 - 8:30sa

TẠP CHÍ IN (Bản in được lưu tại Tầng 4 – TV )
1. Giải pháp phát triển du lịch sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long / ThS. Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc Nghi
Tóm tắt: Bài viết này, tác giả đã đưa ra những nét đặc trưng của du lịch sông nước đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như du lịch miền vườn, du lịch chợ nổi ở đồng bằng và cả văn hóa ẩm thực cũng với các lễ hội truyền thống tại đây. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày một số hạn chế và thách thức đối với sự phát triển du lịch sông nước ở ĐBSCL như: chỉ dựa vào lợi thế về tài nguyên du lịch, cách làm du lịch còn mang tinh tự phát chưa chuyên nghiệp, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn yếu kém. Từ đó, người viết đã gợi ý một số giải pháp để phát triển du lịch sông nước ĐBSCL là: ngành du lịch cần xây dựng sản phẩm du lịch sông nước đặc thù, dựa vào lợi thế cạnh tranh của từng địa phương trong mối liên kết vùng; đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch; cần nghiên cứu, xây dựng các tour, tuyến du lịch sông nước hấp dẫn, gắn kết các tài nguyên du lịch đặc trưng của miền Tây Nam Bộ; để phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, sông nước, ngành du lịch cần nghiên cứu các chương trình kêu gọi đầu tư, hợp tác đầu tư.
Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ An Giang / 2015, Số 2, tr. 20-22
2. Liên kết phát triển du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long / Thu Hiền
Tóm tắt: Theo tác giả, để thúc đẩy vấn đề liên kết phát triển “du lịch xanh” ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) một cách có hiệu quả, cần tập trung vào các giải pháp sau: (1) thúc đẩy phát triển các sản phẩm du lịch bền vững dựa trên thế mạnh từng vùng, từng địa phương; (2) đẩy mạnh các hoạt động và nâng cao vai trò đầu mối của Hiệp hội du lịch ĐBSCLvề việc liên kết xây dựng – phát triển sản phẩm du lịch, liên kết xúc tiến, liên kết bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, liên kết xây dựng các sự kiện du lịch chung; (3) nâng cao nhận thức xã hội về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch xanh; (4) tăng cường hiệu quả quản lý các dự án, đẩy mạnh công tác quy hoạch, thẩm định các dự án du lịch xanh; (5) tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường du lịch với việc nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện các chính sách khuyến khích phát triển du lịch xanh với sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch / 2015, Số 8, tr. 12–13
3. Văn hoá sinh thái sông biển và du lịch Đồng bằng sông Cửu Long / Huỳnh Quốc Thắng
Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả trình bày những nét đặc trưng và độc đáo về du lịch văn hóa sinh thái (VHST) sông nước, du lịch VHST biển đảo và về du lịch VHST tộc người gắn với sông nước, biển đảo ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Qua đó, để phát triển du lịch VHST tại đây thì cần tập trung giải quyết các vấn đề sau: (1) giải pháp quy hoạch, kế hoạch và thực hiện chiến lược “đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch”; (2) tổ chức, xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực du lịch; (3) liên kết, hợp tác, đầu tư phát triển hoạt động du lịch với các địa phương trong vùng, địa phương trong cả nước.
Nguồn trích: TC Khoa học Xã hội / 2010, Số 9, tr. 42-46,36
4. Giải pháp " liên kết 4 nhà" trong phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long / Nguyễn Quốc Nghi.
Tóm tắt: Bài trích giới thiệu sơ lược vài nét về du lịch sinh thái, thực trạng ô nhiễm môi trường, giải pháp "liên kết 4 nhà" gắn với bảo vệ môi trường đồng bằng sông Cửu Long.
Nguồn trích: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Nhận thức về nhu cầu bảo vệ môi trường, vai trò của giáo dục đại học / 2010, tr. 49 – 54
5. Phát triển du lịch cộng đồng khu vực đồng bằng sông Cửu Long / Thanh Hiền
Tóm tắt: Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là mô hình du lịch đang được chú trọng đầu tư ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên nhiều địa phương trong khu vực như Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang với những hoạt động cụ thể: (1) không ngừng cải tiến về nội dung, hình thức, chất lượng, dịch vụ, sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày một đa dạng của du khách; (2) tăng thời gian lưu trú cho du khách; (3) tăng cường quảng bá trên các phương tiện truyền thông.
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2016, Số 8, tr. 32-33
6. Du lịch ngoạn miền Tây / Lê Thị Thanh Yến, Võ Nguyên Thông
Tóm tắt: Tác giả giới thiệu một số điểm đến lý tưởng cùng những khu du lịch miệt vườn sông nước miền Tây Nam Bộ như: (1) khu du lịch Cồn Phụng – Bến Tre; (2) khu du lịch Mỹ Khánh – Cần Thơ; (3) tắm đồng mùa nước nổi trên những cánh đồng lớn ở An Giang, Đồng Tháp, Long An; (4) các món nướng trứ danh ở miền Tây (cá lóc nướng trui, rắn bông súng, gà nướng đất sét, óc đồng nướng, chuột đồng nướng).
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2016, Số 11, tr. 14-15
7. Ứng dụng E-Marketing trong quảng bá du lịch đồng bằng sông Cửu Long / ThS. Vũ Quốc Trí
Tóm tắt: Tác giả cho rằng để đưa vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trở thành điểm đến du lịch có thương hiệu thì cần đẩy mạnh xúc tiến quảng bá đến các thị trường tiềm năng, trong đó, E-Marketing được xác định là một yếu tố quan trọng. Đối với vùng ĐBSCL có ba địa phương được chọn để triển khai ứng dụng này là Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang. Để hình thức quảng bá du lịch này đạt hiệu quả cao, các chuyên gia nằm trong dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội” đã vạch ra 10 bước cơ bản để thực hiện như: xác định khách hàng mục tiêu; chọn phương pháp E-marketing phù hợp; đồng bộ các chiến lược E-marketing của vùng với các chiến lược E-marketing của quốc gia; thực hiện các chiến lược ngắn, trung và dài hạn; tham gia mạng xã hội và thúc đẩy nội dung chất lượng cao; xây dựng một trang web đầy dủ thông tin; phối hợp các doanh nghiệp du lịch để thu được các đánh giá trực tuyến, …
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch / 2016, Số 7, tr. 34-35
8. Du lịch Homestay tại các làng nghề truyền thống ở Phú Quốc / Nguyễn Công Hoan
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu đôi nét về loại hình du lịch Homestay tại các làng nghề truyền thống, du lịch làng nghề là khách du lịch muốn chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày trong một làng nghề hay một thôn bản bất kỳ và các làng nghề thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch này. Theo tác giả, hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch homestay thể hiện qua các mặt: đối tượng khách du lịch là khách nội địa và quốc tế; về cơ sở lưu trú; các dịch vụ ăn uống; đối với hoạt động hướng dẫn trải nghiệm; về giá cả dịch vụ du lịch homestay. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch homestay tại các làng nghề.
Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật / 2016, Số 6 (384), tr. 57-60
TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

  • Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)
  • Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

1. Phát triển cây ăn trái gắn với du lịch sinh thái miệt vườn: Hướng đi đúng cho Đồng bằng sông Cửu Long / Trương Văn Đạo
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến loại hình du lịch sinh thái miệt vườn có tiềm năng lớn cho sự phát triển chung về du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với vườn cây ăn trái như: (1) để du lịch phát triển mạnh cần đẩy mạnh xã hội hóa, (2) liên kết hợp tác phát triển du lịch với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng ĐBSCL; (3) đầu tư kết cấu hạ tầng đến các vùng có vườn cây ăn trái đặc sản của địa phương; (4) hợp tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch; (5) tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch.
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, 2010, Số 6, tr. 26-27
2. Bảo tồn đất ngập nước và đa dạng sinh học kết hợp du lịch sinh thái cộng đồng ở đồng bằng sông Cửu Long / Trần Anh Thư
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề bảo tồn đất ngập mặn kết hợp với du lịch sinh thái, cộng đồng. Các tiếp cận bền vững cho bảo tồn và phát triển đất ngập nước kết hợp với phát triển du lịch sinh thái cộng đồng như: (1) sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững; (2) giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức, giảm thiểu chất thải; (3) bảo tồn tính đa dạng; (4) tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương. Từ đó, tác giả cũng đưa ra đề xuất để xây dựng một dự án về phát triển các khu đất ngập nước ở ĐBSCL kết hợp du lịch sinh thái, cộng đồng: (1) xây dựng kế hoạch dành cho những vùng đệm xung quanh khu vực bảo tồn; (2) tạo ra và phát triển tiện nghi cho khách du lịch; (3) hình thành trung tâm thông tin du lịch cộng đồng.
Nguồn trích: Bản tin Khoa học và Công nghệ An Giang, 2012, Số 2, tr. 26-31, 35


Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu
 

Du lịch sinh thái vùng Đồng bằng sông Cửu Long

T6, 20/01/2017 - 8:30sa

TẠP CHÍ IN (Bản in được lưu tại Tầng 4 – TV )
1. Giải pháp phát triển du lịch sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long / ThS. Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc Nghi
Tóm tắt: Bài viết này, tác giả đã đưa ra những nét đặc trưng của du lịch sông nước đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như du lịch miền vườn, du lịch chợ nổi ở đồng bằng và cả văn hóa ẩm thực cũng với các lễ hội truyền thống tại đây. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày một số hạn chế và thách thức đối với sự phát triển du lịch sông nước ở ĐBSCL như: chỉ dựa vào lợi thế về tài nguyên du lịch, cách làm du lịch còn mang tinh tự phát chưa chuyên nghiệp, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn yếu kém. Từ đó, người viết đã gợi ý một số giải pháp để phát triển du lịch sông nước ĐBSCL là: ngành du lịch cần xây dựng sản phẩm du lịch sông nước đặc thù, dựa vào lợi thế cạnh tranh của từng địa phương trong mối liên kết vùng; đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch; cần nghiên cứu, xây dựng các tour, tuyến du lịch sông nước hấp dẫn, gắn kết các tài nguyên du lịch đặc trưng của miền Tây Nam Bộ; để phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, sông nước, ngành du lịch cần nghiên cứu các chương trình kêu gọi đầu tư, hợp tác đầu tư.
Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ An Giang / 2015, Số 2, tr. 20-22
2. Liên kết phát triển du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long / Thu Hiền
Tóm tắt: Theo tác giả, để thúc đẩy vấn đề liên kết phát triển “du lịch xanh” ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) một cách có hiệu quả, cần tập trung vào các giải pháp sau: (1) thúc đẩy phát triển các sản phẩm du lịch bền vững dựa trên thế mạnh từng vùng, từng địa phương; (2) đẩy mạnh các hoạt động và nâng cao vai trò đầu mối của Hiệp hội du lịch ĐBSCLvề việc liên kết xây dựng – phát triển sản phẩm du lịch, liên kết xúc tiến, liên kết bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, liên kết xây dựng các sự kiện du lịch chung; (3) nâng cao nhận thức xã hội về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch xanh; (4) tăng cường hiệu quả quản lý các dự án, đẩy mạnh công tác quy hoạch, thẩm định các dự án du lịch xanh; (5) tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường du lịch với việc nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện các chính sách khuyến khích phát triển du lịch xanh với sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch / 2015, Số 8, tr. 12–13
3. Văn hoá sinh thái sông biển và du lịch Đồng bằng sông Cửu Long / Huỳnh Quốc Thắng
Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả trình bày những nét đặc trưng và độc đáo về du lịch văn hóa sinh thái (VHST) sông nước, du lịch VHST biển đảo và về du lịch VHST tộc người gắn với sông nước, biển đảo ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Qua đó, để phát triển du lịch VHST tại đây thì cần tập trung giải quyết các vấn đề sau: (1) giải pháp quy hoạch, kế hoạch và thực hiện chiến lược “đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch”; (2) tổ chức, xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực du lịch; (3) liên kết, hợp tác, đầu tư phát triển hoạt động du lịch với các địa phương trong vùng, địa phương trong cả nước.
Nguồn trích: TC Khoa học Xã hội / 2010, Số 9, tr. 42-46,36
4. Giải pháp " liên kết 4 nhà" trong phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long / Nguyễn Quốc Nghi.
Tóm tắt: Bài trích giới thiệu sơ lược vài nét về du lịch sinh thái, thực trạng ô nhiễm môi trường, giải pháp "liên kết 4 nhà" gắn với bảo vệ môi trường đồng bằng sông Cửu Long.
Nguồn trích: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Nhận thức về nhu cầu bảo vệ môi trường, vai trò của giáo dục đại học / 2010, tr. 49 – 54
5. Phát triển du lịch cộng đồng khu vực đồng bằng sông Cửu Long / Thanh Hiền
Tóm tắt: Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là mô hình du lịch đang được chú trọng đầu tư ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên nhiều địa phương trong khu vực như Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang với những hoạt động cụ thể: (1) không ngừng cải tiến về nội dung, hình thức, chất lượng, dịch vụ, sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày một đa dạng của du khách; (2) tăng thời gian lưu trú cho du khách; (3) tăng cường quảng bá trên các phương tiện truyền thông.
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2016, Số 8, tr. 32-33
6. Du lịch ngoạn miền Tây / Lê Thị Thanh Yến, Võ Nguyên Thông
Tóm tắt: Tác giả giới thiệu một số điểm đến lý tưởng cùng những khu du lịch miệt vườn sông nước miền Tây Nam Bộ như: (1) khu du lịch Cồn Phụng – Bến Tre; (2) khu du lịch Mỹ Khánh – Cần Thơ; (3) tắm đồng mùa nước nổi trên những cánh đồng lớn ở An Giang, Đồng Tháp, Long An; (4) các món nướng trứ danh ở miền Tây (cá lóc nướng trui, rắn bông súng, gà nướng đất sét, óc đồng nướng, chuột đồng nướng).
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2016, Số 11, tr. 14-15
7. Ứng dụng E-Marketing trong quảng bá du lịch đồng bằng sông Cửu Long / ThS. Vũ Quốc Trí
Tóm tắt: Tác giả cho rằng để đưa vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trở thành điểm đến du lịch có thương hiệu thì cần đẩy mạnh xúc tiến quảng bá đến các thị trường tiềm năng, trong đó, E-Marketing được xác định là một yếu tố quan trọng. Đối với vùng ĐBSCL có ba địa phương được chọn để triển khai ứng dụng này là Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang. Để hình thức quảng bá du lịch này đạt hiệu quả cao, các chuyên gia nằm trong dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội” đã vạch ra 10 bước cơ bản để thực hiện như: xác định khách hàng mục tiêu; chọn phương pháp E-marketing phù hợp; đồng bộ các chiến lược E-marketing của vùng với các chiến lược E-marketing của quốc gia; thực hiện các chiến lược ngắn, trung và dài hạn; tham gia mạng xã hội và thúc đẩy nội dung chất lượng cao; xây dựng một trang web đầy dủ thông tin; phối hợp các doanh nghiệp du lịch để thu được các đánh giá trực tuyến, …
Nguồn trích: Tạp chí Du lịch / 2016, Số 7, tr. 34-35
8. Du lịch Homestay tại các làng nghề truyền thống ở Phú Quốc / Nguyễn Công Hoan
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu đôi nét về loại hình du lịch Homestay tại các làng nghề truyền thống, du lịch làng nghề là khách du lịch muốn chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày trong một làng nghề hay một thôn bản bất kỳ và các làng nghề thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch này. Theo tác giả, hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch homestay thể hiện qua các mặt: đối tượng khách du lịch là khách nội địa và quốc tế; về cơ sở lưu trú; các dịch vụ ăn uống; đối với hoạt động hướng dẫn trải nghiệm; về giá cả dịch vụ du lịch homestay. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch homestay tại các làng nghề.
Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật / 2016, Số 6 (384), tr. 57-60
TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

  • Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)
  • Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

1. Phát triển cây ăn trái gắn với du lịch sinh thái miệt vườn: Hướng đi đúng cho Đồng bằng sông Cửu Long / Trương Văn Đạo
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến loại hình du lịch sinh thái miệt vườn có tiềm năng lớn cho sự phát triển chung về du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với vườn cây ăn trái như: (1) để du lịch phát triển mạnh cần đẩy mạnh xã hội hóa, (2) liên kết hợp tác phát triển du lịch với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng ĐBSCL; (3) đầu tư kết cấu hạ tầng đến các vùng có vườn cây ăn trái đặc sản của địa phương; (4) hợp tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch; (5) tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch.
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, 2010, Số 6, tr. 26-27
2. Bảo tồn đất ngập nước và đa dạng sinh học kết hợp du lịch sinh thái cộng đồng ở đồng bằng sông Cửu Long / Trần Anh Thư
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề bảo tồn đất ngập mặn kết hợp với du lịch sinh thái, cộng đồng. Các tiếp cận bền vững cho bảo tồn và phát triển đất ngập nước kết hợp với phát triển du lịch sinh thái cộng đồng như: (1) sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững; (2) giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức, giảm thiểu chất thải; (3) bảo tồn tính đa dạng; (4) tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương. Từ đó, tác giả cũng đưa ra đề xuất để xây dựng một dự án về phát triển các khu đất ngập nước ở ĐBSCL kết hợp du lịch sinh thái, cộng đồng: (1) xây dựng kế hoạch dành cho những vùng đệm xung quanh khu vực bảo tồn; (2) tạo ra và phát triển tiện nghi cho khách du lịch; (3) hình thành trung tâm thông tin du lịch cộng đồng.
Nguồn trích: Bản tin Khoa học và Công nghệ An Giang, 2012, Số 2, tr. 26-31, 35


Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu
 

Đọc và cảm nhận: Quảy gánh băng đồng ra thế giới

T2, 09/01/2017 - 10:34sa
Quảy gánh băng đồng ra thế giới - đưa bạn đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác
  Kho mượn đọc - Thư viện Đại học An Giang
Số phân loại: 330 /V121

Chỉ sau 2 tháng xuất bản, “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” đã ra mắt phiên bản Social book lần đầu tiên tại Việt Nam nhằm tăng cường tương tác giữa tác giả và bạn đọc, cũng như hỗ trợ những hình ảnh tư liệu cho bạn đọc khi cần. Lần tái bản này, quyển sách được dành tặng cho các bạn sinh viên của 30 trường đại học, cao đẳng trong cả nước trong chương trình “Cùng Mobifone bật nút công dân toàn cầu”* nhằm giúp cho các bạn sinh viên tự định hướng bản thân, phát huy thế mạnh của mình để tự tin tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Với 20 câu chuyện về 19 trong số hơn 60 quốc gia trên cuộc hành trình chinh phục thế giới, tác phẩm đã từng bước đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác với những thông tin thú vị về văn hóa, xã hội, chính trị cũng như những mô tả hết sức sống động về cảnh vật và con người mà tác giả đã có dịp trò chuyện. Những bất ngờ này giúp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về thế giới cũng như tự hiểu rõ hơn về chính bản thân mình để chuẩn bị cho hành trình “bật nút công dân toàn cầu”. 

Bất ngờ đầu tiên là “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” không giống như những mô tuýp sách kỹ năng quen thuộc. Nghĩa là quyển sách sẽ bắt đầu bằng cách phân tích những lý do vì sao phải “băng đồng ra thế giới” và tiếp đó sẽ liệt kê “từng bước” cần hoàn thiện để khởi động hành trình đó. Ngược lại, tác giả bắt đầu bằng lời tự sự mộc mạc về bài học tình người, “…, hành trình đi ra thế giới đối với tôi là hành trình trở về nguồn cội, trở về nơi nuôi dưỡng hạt giống tâm hồn”.Tại sao “hành trình đi ra thế giới" gần 20 năm, trải dài trên 60 quốc gia lại chỉ là “hành trình trở về nguồn cội” với việc kết tinh bằng bài học “biết yêu thương và được yêu thương”?  Một bài học mà có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng được dạy khi còn bé.

Điều bất ngờ kế tiếp là việc lựa chọn những quốc gia trên cuộc hành trình ra thế giới. Từng đến hơn 60 quốc gia (gần 1/3 bản đồ thế giới) nhưng tác giả chỉ đề cập 19 điểm đến. Theo lẽ tự nhiên, người đọc sẽ nghĩ có lẽ đây là những cường quốc nổi bật với nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa xã hội mà các nước khác nên học hỏi. Nhưng thật bất ngờ trong danh sách ấy lại xuất hiện nhiều quốc gia láng giềng ở Đông Nam Á. Chính điều này làm nhiều người thắc mắc liệu những quốc gia ấy có gì “vượt trội” hay cần học hỏi. 

Sự sắp xếp thứ tự các quốc gia cũng tạo ra nhiều câu hỏi trong lòng người đọc. Khi nhắc đến những chuẩn mực quốc tế nhất là tác phong làm việc, người ta hay nghĩ đến tác phong công nghiệp của các công dân đến từ các cường quốc lâu năm hay những đế chế về kinh tế, khoa học kỹ thuật như Anh, Pháp, Mỹ. Nhưng, quyển sách lại bắt đầu từ một đất nước non trẻ như Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), một cường quốc mới nổi như Singapore, hay một quốc gia được tác giả ví là “bảo tàng sống” nước Ý. Chính sự sắp xếp này tạo ra sự mong muốn khám phá những thông tin mới lạ để giải mã những hoài nghi ban đầu.

Tất cả những nghi vấn đó vô tình trở thành chất xúc tác tự nhiên khiến bạn lật và nghiệm từng trang sách như một quy luật của phản ứng hóa học. Nhưng khi quyển sách được đóng lại, bạn cũng sẽ tiếp tục bất ngờ vì nhiều hiểu biết của mình có thể cũng như cách tác giả ví về mình là “ếch ngồi đáy giếng”. Vì bạn cũng không thể ngờ, một quốc gia non trẻ “không có gì ngoài các khu sa mạc” lại trở thành một trong những đất nước hiện đại nhất, với mức sống cao nhất thế giới chỉ trong 40 năm, vì nhờ vào “tầm nhìn sa mạc”. Hay một quốc gia chỉ tổ chức các hoạt động nhà hát opera, các viện bảo tàng và phòng trưng bày nghệ thuật nhưng mang về nguồn lợi du lịch trên 45,5 tỷ đô năm 2013 (gấp 6 lần Việt Nam) vì biết khai thác đam mê nghệ thuật của nhiều du khách.Điều mà rất hiếm được quan tâm như ở Việt Nam như cách tác giả ví von. Những bất ngờ của các quốc gia ấy nhằm truyền tải thông điệp về sức mạnh của việc biết khai thác đúng những lợi thế đặc thù của mỗi quốc gia trên con đường làm giàu. Thông điệp ấy cũng giúp chúng ta tự tin hơn về bản thân mình, để biết phát huy những ưu điểm một cách có hiệu quả nhất cho cuộc sống, hay nghề nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Ngược lại, bạn sẽ cảm thấy bất ngờ hơn vì có những điều trước đây có thể là vĩ đại, đáng khâm phục lại được miêu tả hết sức bình thường, thậm chí là cần nhìn lại. Như một đất nước Ai Cập vĩ đại lại được ví là “Pha-ra-ông và giấc ngủ ngàn năm”. Bởi lẽ, Ai cập đang phải đối mặt với cơ sở vật chất kém (xếp hàng 100/144), tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, và là nước có thu nhập thấp hơn nhiều nước trong khu vực,… Ngạc nhiên nhất là “con đường vào di sản thế giới” với hơn 5.000 năm lịch sử được tác giả miêu tả là cuộc hành trình “Bước từng bước lạc lõng trên con đường đất nhỏ xíu dẫn vào Kim Tự Tháp, những quán hàng lưu niệm ọp ẹp, mùi phân động vật ngây người. Đường vào vĩ đại là như thế này ư? Bối rối!”. Vậy mà, nhiều người dân vẫn còn đang kẹt vào “ánh hào quang” để tuyên bố hùng hồn rằng “Chúng tôi đã xây kim tự tháp, có gì mà chúng tôi không làm được” mặc dù đất nước họ đang “ngưng lại cùng với sự hoàn thành của kim tự tháp”. Câu chuyện “kẹt vào quá khứ” của Ai cập giúp cho chúng ta tự nhìn lại mình vì có những lúc chúng ta sẽ ngủ quên trên chiến thắng hay loay hoay với những “hào quang” mà quên rằng thế giới luôn vận động, và chúng ta có thể bị đào thải ra khỏi sự toàn cầu hóa mà vẫn chưa hiểu vì sao.

Với mong muốn giúp các bạn trẻ tự tin “bước ra thế giới”, tác giả Nguyễn Phi Vân dùng lối kể chuyện, chia sẻ rất chân thành mộc mạc. Ngôn ngữ súc tích, gần gũi cộng với văn phong đơn giản giúp chúng ta đọc liền một mạch và hiểu rõ những gì tác giả muốn sẻ chia. Bạn sẽ bắt gặp những từ rất đỗi đời thường như “ca hát nhảy múa”, “quạt xành xạch”, “nói oang oang”, hay như cách tác giả ví mình như “ếch tôi”.

Xét về nội hàm kiến thức, “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” thực chất là một quyển sách về kinh tế, vì được tác giả (một chuyên gia kinh tế) hệ thống rất nhiều đặc điểm điển hình về kinh tế của một nước như thu nhập bình quân, xếp hạng trên các lĩnh vực,... Tuy nhiên, quyển sách được trình bày theo lối kể chuyện Đông Tây dí dỏm, cộng với ngôn từ mộc mạc chứ không khô khan, khó hiểu như một quyển giáo trình, học thuyết về kinh tế. Phương pháp đọc sách vừa giải trí vừa nghiên cứu giúp nhiều bạn đọc yêu thích đọc sách để nâng cao hiểu biết của mình hơn.

Có thể “Công dân toàn cầu” từng được ví là mục tiêu chỉ dành cho người “dũng cảm” muốn đi đến vinh quang nghề nghiệp mang tầm quốc tế. Nhưng trong thế giới phẳng hiện nay, đặc biệt là với việc trở thành thành viên của các tổ chức thương mại, kinh tế; hay với việc mở rộng hợp tác với nhiều quốc gia, Việt Nam cũng trở thành thị trường lao động tiềm năng của nhiều lao động nước ngoài. Nghĩa là “công dân toàn cầu” không còn là mục tiêu chỉ dành cho người “dũng cảm” nữa, mà đó là điều mà mỗi người lao động, nhất là các bạn sinh viên phải thực hiện nếu muốn cạnh tranh nghề nghiệp ngay tại đất nước mình. Bối cảnh này đòi hỏi bạn trẻ cần một sự nỗ lực vượt bậc, một sự đầu tư nghiêm túc từ kiến thức nghề nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng mềm, đến những hiểu biết về văn hóa, văn học, mỹ thuật, âm nhạc…, của thế giới. Nhưng, nếu bạn vẫn còn loay hoay chưa biết bắt đầu từ đâu, hãy tìm đến “Quảy gánh băng đồng ra thế giới”.

* Quyển sách được tác giả tặng cho Thư viện nhân dịp Chương trình “Cùng Mobifone bật nút công dân toàn cầu”” được tổ chức tại Đại học An Giang.

** Bạn đọc có thể tìm đọc tài liệu tại Thư viện Đại học An Giang, Tầng 3 (Số phân loại 330 /V121)

 

Vy Vy

 

Đọc và cảm nhận: Quảy gánh băng đồng ra thế giới

T2, 09/01/2017 - 10:34sa
Quảy gánh băng đồng ra thế giới - đưa bạn đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác
  Kho mượn đọc - Thư viện Đại học An Giang
Số phân loại: 330 /V121

Chỉ sau 2 tháng xuất bản, “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” đã ra mắt phiên bản Social book lần đầu tiên tại Việt Nam nhằm tăng cường tương tác giữa tác giả và bạn đọc, cũng như hỗ trợ những hình ảnh tư liệu cho bạn đọc khi cần. Lần tái bản này, quyển sách được dành tặng cho các bạn sinh viên của 30 trường đại học, cao đẳng trong cả nước trong chương trình “Cùng Mobifone bật nút công dân toàn cầu”* nhằm giúp cho các bạn sinh viên tự định hướng bản thân, phát huy thế mạnh của mình để tự tin tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Với 20 câu chuyện về 19 trong số hơn 60 quốc gia trên cuộc hành trình chinh phục thế giới, tác phẩm đã từng bước đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác với những thông tin thú vị về văn hóa, xã hội, chính trị cũng như những mô tả hết sức sống động về cảnh vật và con người mà tác giả đã có dịp trò chuyện. Những bất ngờ này giúp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về thế giới cũng như tự hiểu rõ hơn về chính bản thân mình để chuẩn bị cho hành trình “bật nút công dân toàn cầu”. 

Bất ngờ đầu tiên là “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” không giống như những mô tuýp sách kỹ năng quen thuộc. Nghĩa là quyển sách sẽ bắt đầu bằng cách phân tích những lý do vì sao phải “băng đồng ra thế giới” và tiếp đó sẽ liệt kê “từng bước” cần hoàn thiện để khởi động hành trình đó. Ngược lại, tác giả bắt đầu bằng lời tự sự mộc mạc về bài học tình người, “…, hành trình đi ra thế giới đối với tôi là hành trình trở về nguồn cội, trở về nơi nuôi dưỡng hạt giống tâm hồn”.Tại sao “hành trình đi ra thế giới" gần 20 năm, trải dài trên 60 quốc gia lại chỉ là “hành trình trở về nguồn cội” với việc kết tinh bằng bài học “biết yêu thương và được yêu thương”?  Một bài học mà có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng được dạy khi còn bé.

Điều bất ngờ kế tiếp là việc lựa chọn những quốc gia trên cuộc hành trình ra thế giới. Từng đến hơn 60 quốc gia (gần 1/3 bản đồ thế giới) nhưng tác giả chỉ đề cập 19 điểm đến. Theo lẽ tự nhiên, người đọc sẽ nghĩ có lẽ đây là những cường quốc nổi bật với nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa xã hội mà các nước khác nên học hỏi. Nhưng thật bất ngờ trong danh sách ấy lại xuất hiện nhiều quốc gia láng giềng ở Đông Nam Á. Chính điều này làm nhiều người thắc mắc liệu những quốc gia ấy có gì “vượt trội” hay cần học hỏi. 

Sự sắp xếp thứ tự các quốc gia cũng tạo ra nhiều câu hỏi trong lòng người đọc. Khi nhắc đến những chuẩn mực quốc tế nhất là tác phong làm việc, người ta hay nghĩ đến tác phong công nghiệp của các công dân đến từ các cường quốc lâu năm hay những đế chế về kinh tế, khoa học kỹ thuật như Anh, Pháp, Mỹ. Nhưng, quyển sách lại bắt đầu từ một đất nước non trẻ như Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), một cường quốc mới nổi như Singapore, hay một quốc gia được tác giả ví là “bảo tàng sống” nước Ý. Chính sự sắp xếp này tạo ra sự mong muốn khám phá những thông tin mới lạ để giải mã những hoài nghi ban đầu.

Tất cả những nghi vấn đó vô tình trở thành chất xúc tác tự nhiên khiến bạn lật và nghiệm từng trang sách như một quy luật của phản ứng hóa học. Nhưng khi quyển sách được đóng lại, bạn cũng sẽ tiếp tục bất ngờ vì nhiều hiểu biết của mình có thể cũng như cách tác giả ví về mình là “ếch ngồi đáy giếng”. Vì bạn cũng không thể ngờ, một quốc gia non trẻ “không có gì ngoài các khu sa mạc” lại trở thành một trong những đất nước hiện đại nhất, với mức sống cao nhất thế giới chỉ trong 40 năm, vì nhờ vào “tầm nhìn sa mạc”. Hay một quốc gia chỉ tổ chức các hoạt động nhà hát opera, các viện bảo tàng và phòng trưng bày nghệ thuật nhưng mang về nguồn lợi du lịch trên 45,5 tỷ đô năm 2013 (gấp 6 lần Việt Nam) vì biết khai thác đam mê nghệ thuật của nhiều du khách.Điều mà rất hiếm được quan tâm như ở Việt Nam như cách tác giả ví von. Những bất ngờ của các quốc gia ấy nhằm truyền tải thông điệp về sức mạnh của việc biết khai thác đúng những lợi thế đặc thù của mỗi quốc gia trên con đường làm giàu. Thông điệp ấy cũng giúp chúng ta tự tin hơn về bản thân mình, để biết phát huy những ưu điểm một cách có hiệu quả nhất cho cuộc sống, hay nghề nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Ngược lại, bạn sẽ cảm thấy bất ngờ hơn vì có những điều trước đây có thể là vĩ đại, đáng khâm phục lại được miêu tả hết sức bình thường, thậm chí là cần nhìn lại. Như một đất nước Ai Cập vĩ đại lại được ví là “Pha-ra-ông và giấc ngủ ngàn năm”. Bởi lẽ, Ai cập đang phải đối mặt với cơ sở vật chất kém (xếp hàng 100/144), tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, và là nước có thu nhập thấp hơn nhiều nước trong khu vực,… Ngạc nhiên nhất là “con đường vào di sản thế giới” với hơn 5.000 năm lịch sử được tác giả miêu tả là cuộc hành trình “Bước từng bước lạc lõng trên con đường đất nhỏ xíu dẫn vào Kim Tự Tháp, những quán hàng lưu niệm ọp ẹp, mùi phân động vật ngây người. Đường vào vĩ đại là như thế này ư? Bối rối!”. Vậy mà, nhiều người dân vẫn còn đang kẹt vào “ánh hào quang” để tuyên bố hùng hồn rằng “Chúng tôi đã xây kim tự tháp, có gì mà chúng tôi không làm được” mặc dù đất nước họ đang “ngưng lại cùng với sự hoàn thành của kim tự tháp”. Câu chuyện “kẹt vào quá khứ” của Ai cập giúp cho chúng ta tự nhìn lại mình vì có những lúc chúng ta sẽ ngủ quên trên chiến thắng hay loay hoay với những “hào quang” mà quên rằng thế giới luôn vận động, và chúng ta có thể bị đào thải ra khỏi sự toàn cầu hóa mà vẫn chưa hiểu vì sao.

Với mong muốn giúp các bạn trẻ tự tin “bước ra thế giới”, tác giả Nguyễn Phi Vân dùng lối kể chuyện, chia sẻ rất chân thành mộc mạc. Ngôn ngữ súc tích, gần gũi cộng với văn phong đơn giản giúp chúng ta đọc liền một mạch và hiểu rõ những gì tác giả muốn sẻ chia. Bạn sẽ bắt gặp những từ rất đỗi đời thường như “ca hát nhảy múa”, “quạt xành xạch”, “nói oang oang”, hay như cách tác giả ví mình như “ếch tôi”.

Xét về nội hàm kiến thức, “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” thực chất là một quyển sách về kinh tế, vì được tác giả (một chuyên gia kinh tế) hệ thống rất nhiều đặc điểm điển hình về kinh tế của một nước như thu nhập bình quân, xếp hạng trên các lĩnh vực,... Tuy nhiên, quyển sách được trình bày theo lối kể chuyện Đông Tây dí dỏm, cộng với ngôn từ mộc mạc chứ không khô khan, khó hiểu như một quyển giáo trình, học thuyết về kinh tế. Phương pháp đọc sách vừa giải trí vừa nghiên cứu giúp nhiều bạn đọc yêu thích đọc sách để nâng cao hiểu biết của mình hơn.

Có thể “Công dân toàn cầu” từng được ví là mục tiêu chỉ dành cho người “dũng cảm” muốn đi đến vinh quang nghề nghiệp mang tầm quốc tế. Nhưng trong thế giới phẳng hiện nay, đặc biệt là với việc trở thành thành viên của các tổ chức thương mại, kinh tế; hay với việc mở rộng hợp tác với nhiều quốc gia, Việt Nam cũng trở thành thị trường lao động tiềm năng của nhiều lao động nước ngoài. Nghĩa là “công dân toàn cầu” không còn là mục tiêu chỉ dành cho người “dũng cảm” nữa, mà đó là điều mà mỗi người lao động, nhất là các bạn sinh viên phải thực hiện nếu muốn cạnh tranh nghề nghiệp ngay tại đất nước mình. Bối cảnh này đòi hỏi bạn trẻ cần một sự nỗ lực vượt bậc, một sự đầu tư nghiêm túc từ kiến thức nghề nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng mềm, đến những hiểu biết về văn hóa, văn học, mỹ thuật, âm nhạc…, của thế giới. Nhưng, nếu bạn vẫn còn loay hoay chưa biết bắt đầu từ đâu, hãy tìm đến “Quảy gánh băng đồng ra thế giới”.

* Quyển sách được tác giả tặng cho Thư viện nhân dịp Chương trình “Cùng Mobifone bật nút công dân toàn cầu”” được tổ chức tại Đại học An Giang.

** Bạn đọc có thể tìm đọc tài liệu tại Thư viện Đại học An Giang, Tầng 3 (Số phân loại 330 /V121)

 

Vy Vy

 

Danh sách Bạn đọc trễ hạn Tài liệu tháng 12/2016

T3, 03/01/2017 - 12:45ch

Mời các bạn có tên trong danh sách liên hệ Quầy Lưu thông-tầng 3 để giải quyết việc trễ hạn (Xem file đính kèm).

Danh sách Bạn đọc trễ hạn Tài liệu tháng 12/2016

T3, 03/01/2017 - 12:45ch

Mời các bạn có tên trong danh sách liên hệ Quầy Lưu thông-tầng 3 để giải quyết việc trễ hạn (Xem file đính kèm).

Giới thiệu sách: Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ

T7, 31/12/2016 - 8:25sa

Có khi nào bạn tự hỏi những từ ngữ mà chúng ta thường nghe như: “chèn đét ơi...”, “lãng nhách”, “quậy đục nước”,...có nguồn gốc từ đâu? Tại sao từ ngữ mà người Nam Bộ sử dụng lại mang màu sắc đặc trưng như vậy? Tiến sĩ Ngôn ngữ học Hồ Xuân Mai sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc trên qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ văn hóa của người Nam BộTiến sĩ Hồ Xuân Mai hiện là cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Chính sự am hiểu về vùng đất Nam Bộ cộng với tình yêu thương những con người chất phác, hiền lành, thật thà nơi đây đã thôi thúc tác giả viết tác phẩm “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ”.

Tác phẩm sẽ giúp bạn có cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về ngôn ngữ văn hóa của một vùng miệt vườn sông nước rộng lớn. Sách được chia làm ba chương: Chương một đề cập Tự nhiên, xã hội và bản chất người Nam bộ; Chương hai mô tả đặc điểm tiếng Việt Nam Bộ; Chương 3 đi sâu vào nội dung ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ. Các chương đều được trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu với nhiều luận chứng được trích dẫn cụ thể rõ ràng càng làm tăng thêm giá trị khoa học của quyển sách.

Khi nói tới Nam Bộ, người ta thường hay nghĩ tới khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây còn được gọi là Tây Nam Bộ, hay đơn giản chỉ là miền Tây. Vì thế, trong tác phẩm “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ”, tác giả tập trung đề cấp đến khu vực này.

Điểm nổi bật của quyển sách chính là việc tác giả đã chỉ ra được các cơ sở hình thành những đặc điểm văn hóa cũng như ngôn ngữ của cộng đồng cư dân Tây Nam Bộ. Ngôn ngữ văn hóa Tây Nam Bộ được hình thành từ nhiều yếu tố như: tôn giáo, văn hóa, kinh tế và văn hóa tục người, dân tộc… Trong đó có hai yếu tố là đặc điểm tự nhiên và di cư - cộng cư được xem là quan trọng nhất. Đặc điểm tự nhiên như sông nước nhiều, sinh học đa dạng, đồng bằng mênh mông đã giúp con người Nam Bộ sáng tạo ra từ ngữ mang đặc trưng sông nước Tây Nam Bộ như “quậy đục nước” (dùng ám chỉ hành động làm to chuyện để người khác xấu hổ) câu nói quen thuộc mà ta thường nghe “Ổng bả mà không cưới con nhỏ đó cho nó là nó quậy đục nước liền”; “mất cả chì lẫn chài” (mất tất cả, không còn gì, ví dụ: Mày nổ là đã tính kỹ, bây giờ thì mất cả chì lẫn chài”);“đổ vỏ ốc” (dùng chỉ một việc gì đó mà người khác hưởng lợi mà mình phải gánh chịu kết quả); “mỏ cá chạch” (dùng để ám chỉ người hồ đồ, hỗn láo, thiếu thông minhta thường nghe câu nói “Miệng cá trê ngồi lê đôi mách, Mỏ cá chạch lách chách, hồ đồ”.

Đặc điểm di cư - cộng cư đã tạo ra những thuận lợi về mặt xã hội, đã giúp cho cư dân vùng sông nước Tây Nam Bộ sản sinh ra lớp từ riêng và cách nói riêng mang dấu ấn đặc trưng. Nét đặc trưng được thể hiện qua sử dụng từ ngữ như “tới bến” (chỉ sự việc, việc làm đạt tới cùng mới thôi như nhậu tới bến), “xuồng mắc cạn” (bất ngờ gặp phải khó khăn trở ngại), “bữa nay mầy dắt tụi tao đi ăn à nghen!”. Với cách sử dụng từ ngữ như trên cho ta thấy tính chất phác, dễ chịu, thẳng thắn, mạnh mẽ, bộc trực và có phần ngang bướng của người Tây Nam Bộ. Chính vì thế khi giao tiếp với người Nam Bộ, bạn sẽ cảm thấy gần gũi, thân mật, không có khoảng cách.

Cư dân Tây Nam Bộ thường sử dụng từ ngữ để diễn đạt hoặc chỉ một vấn đề nào đó liên quan đến xã hội và sử dụng nó để nêu lên một ý nghĩa, một đúc kết, giá trị về cuộc sống như “cá cắn câu” (bị dụ dỗ hay bị sập bẫy của người khác),“buông dầm cầm chèo” (chỉ người khôn ngoan, biết tự thích ứng). Để giúp bạn hình dung ra được những từ ngữ mang màu sắc đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ nên ở phần phụ lục tác giả cung cấp thêm một số từ ngữ liên quan đến sông nước, cách diễn đạt, và ý nghĩa xã hội.

Theo ThS. Nguyễn Thanh Hùng “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ sẽ là nguồn tài liệu quý giá cho các bạn nghiên cứu sinh, sinh viên, những nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về Nam Bộ, cụ thể là ngôn ngữ và văn hóa của những con người ở vùng Đất phương Nam”. Hy vọng tác phẩm “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ” giúp bạn tích lũy thêm vốn hiểu biết về ngôn ngữ miền sông nước và ý nghĩa của nó trong đời sống của cư dân Tây Nam Bộ.

Các bạn quan tâm đến nội dung quyển sách có thể tìm đọc tại Thư viện Đại học An Giang (Số phân loại 306.4409597/M103).

Đan Tâm - TV

Giới thiệu sách: Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ

T7, 31/12/2016 - 8:25sa

Có khi nào bạn tự hỏi những từ ngữ mà chúng ta thường nghe như: “chèn đét ơi...”, “lãng nhách”, “quậy đục nước”,...có nguồn gốc từ đâu? Tại sao từ ngữ mà người Nam Bộ sử dụng lại mang màu sắc đặc trưng như vậy? Tiến sĩ Ngôn ngữ học Hồ Xuân Mai sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc trên qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ văn hóa của người Nam BộTiến sĩ Hồ Xuân Mai hiện là cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Chính sự am hiểu về vùng đất Nam Bộ cộng với tình yêu thương những con người chất phác, hiền lành, thật thà nơi đây đã thôi thúc tác giả viết tác phẩm “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ”.

Tác phẩm sẽ giúp bạn có cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về ngôn ngữ văn hóa của một vùng miệt vườn sông nước rộng lớn. Sách được chia làm ba chương: Chương một đề cập Tự nhiên, xã hội và bản chất người Nam bộ; Chương hai mô tả đặc điểm tiếng Việt Nam Bộ; Chương 3 đi sâu vào nội dung ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ. Các chương đều được trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu với nhiều luận chứng được trích dẫn cụ thể rõ ràng càng làm tăng thêm giá trị khoa học của quyển sách.

Khi nói tới Nam Bộ, người ta thường hay nghĩ tới khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây còn được gọi là Tây Nam Bộ, hay đơn giản chỉ là miền Tây. Vì thế, trong tác phẩm “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ”, tác giả tập trung đề cấp đến khu vực này.

Điểm nổi bật của quyển sách chính là việc tác giả đã chỉ ra được các cơ sở hình thành những đặc điểm văn hóa cũng như ngôn ngữ của cộng đồng cư dân Tây Nam Bộ. Ngôn ngữ văn hóa Tây Nam Bộ được hình thành từ nhiều yếu tố như: tôn giáo, văn hóa, kinh tế và văn hóa tục người, dân tộc… Trong đó có hai yếu tố là đặc điểm tự nhiên và di cư - cộng cư được xem là quan trọng nhất. Đặc điểm tự nhiên như sông nước nhiều, sinh học đa dạng, đồng bằng mênh mông đã giúp con người Nam Bộ sáng tạo ra từ ngữ mang đặc trưng sông nước Tây Nam Bộ như “quậy đục nước” (dùng ám chỉ hành động làm to chuyện để người khác xấu hổ) câu nói quen thuộc mà ta thường nghe “Ổng bả mà không cưới con nhỏ đó cho nó là nó quậy đục nước liền”; “mất cả chì lẫn chài” (mất tất cả, không còn gì, ví dụ: Mày nổ là đã tính kỹ, bây giờ thì mất cả chì lẫn chài”);“đổ vỏ ốc” (dùng chỉ một việc gì đó mà người khác hưởng lợi mà mình phải gánh chịu kết quả); “mỏ cá chạch” (dùng để ám chỉ người hồ đồ, hỗn láo, thiếu thông minhta thường nghe câu nói “Miệng cá trê ngồi lê đôi mách, Mỏ cá chạch lách chách, hồ đồ”.

Đặc điểm di cư - cộng cư đã tạo ra những thuận lợi về mặt xã hội, đã giúp cho cư dân vùng sông nước Tây Nam Bộ sản sinh ra lớp từ riêng và cách nói riêng mang dấu ấn đặc trưng. Nét đặc trưng được thể hiện qua sử dụng từ ngữ như “tới bến” (chỉ sự việc, việc làm đạt tới cùng mới thôi như nhậu tới bến), “xuồng mắc cạn” (bất ngờ gặp phải khó khăn trở ngại), “bữa nay mầy dắt tụi tao đi ăn à nghen!”. Với cách sử dụng từ ngữ như trên cho ta thấy tính chất phác, dễ chịu, thẳng thắn, mạnh mẽ, bộc trực và có phần ngang bướng của người Tây Nam Bộ. Chính vì thế khi giao tiếp với người Nam Bộ, bạn sẽ cảm thấy gần gũi, thân mật, không có khoảng cách.

Cư dân Tây Nam Bộ thường sử dụng từ ngữ để diễn đạt hoặc chỉ một vấn đề nào đó liên quan đến xã hội và sử dụng nó để nêu lên một ý nghĩa, một đúc kết, giá trị về cuộc sống như “cá cắn câu” (bị dụ dỗ hay bị sập bẫy của người khác),“buông dầm cầm chèo” (chỉ người khôn ngoan, biết tự thích ứng). Để giúp bạn hình dung ra được những từ ngữ mang màu sắc đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ nên ở phần phụ lục tác giả cung cấp thêm một số từ ngữ liên quan đến sông nước, cách diễn đạt, và ý nghĩa xã hội.

Theo ThS. Nguyễn Thanh Hùng “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ sẽ là nguồn tài liệu quý giá cho các bạn nghiên cứu sinh, sinh viên, những nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về Nam Bộ, cụ thể là ngôn ngữ và văn hóa của những con người ở vùng Đất phương Nam”. Hy vọng tác phẩm “Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ” giúp bạn tích lũy thêm vốn hiểu biết về ngôn ngữ miền sông nước và ý nghĩa của nó trong đời sống của cư dân Tây Nam Bộ.

Các bạn quan tâm đến nội dung quyển sách có thể tìm đọc tại Thư viện Đại học An Giang (Số phân loại 306.4409597/M103).

Đan Tâm - TV

Giới thiệu danh mục sách Văn kiện, Nghị quyết, Báo cáo chính trị

T6, 30/12/2016 - 10:27sa
 

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX : (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ V115

Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng : (Sách tặng)/ Vũ Hữu Ngoạn (chủ biên) ... (và những người khác


Số phân loại: 324.2597071/ T310

Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng: Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Tài liệu phục vụ học tập Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động, xây dựng chỉnh đốn Đảng: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và phục vụ bước 2 cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng : Dùng cho báo cáo viên: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban chấp hành Trung ương khóa VIII : Lưu hành nội bộ : (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ V115

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597075/ B108

 

Giới thiệu danh mục sách Văn kiện, Nghị quyết, Báo cáo chính trị

T6, 30/12/2016 - 10:27sa
 

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX : (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ V115

Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng : (Sách tặng)/ Vũ Hữu Ngoạn (chủ biên) ... (và những người khác


Số phân loại: 324.2597071/ T310

Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng: Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Tài liệu phục vụ học tập Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động, xây dựng chỉnh đốn Đảng: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và phục vụ bước 2 cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng : Dùng cho báo cáo viên: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ T103

Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban chấp hành Trung ương khóa VIII : Lưu hành nội bộ : (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597071/ V115

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII: (Sách tặng)


Số phân loại: 324.2597075/ B108

 

Thông báo mở cửa phục vụ thông tầm

T5, 29/12/2016 - 9:48sa

THÔNG BÁO

Về việc mở cửa phục vụ thông tầm

Từ ngày 03/01/2017, Thư viện mở cửa phục vụ từ 7h30 đến 17h.

Thư viện

[alert]15/01/2017[/alert]

Thông báo mở cửa phục vụ thông tầm

T5, 29/12/2016 - 9:48sa

THÔNG BÁO

Về việc mở cửa phục vụ thông tầm

Từ ngày 03/01/2017, Thư viện mở cửa phục vụ từ 7h30 đến 17h.

Thư viện

[alert]15/01/2017[/alert]

Giới thiệu sách mới tháng 1/2017

T4, 28/12/2016 - 11:44sa

 

TỔNG LOẠI

Linux-Mandrake operating system 7.0: User guide and reference manual : (Sách tặng)


Số phân loại: 005.43/ L735

KHOA HỌC XÃ HỘI

Từ điển khoa học xã hội Anh - Pháp - Việt = English-French-Vietnamese dictionary of social sciences = Dictionnaire Anglais-Français-Vietnamien des sciences sociales : (Sách tặng) / Nguyễn Thượng Hùng


Số phân loại: 300.3/ H513
(Sách Tham khảo - Tầng 4)

Niên giám thống kê tỉnh An Giang 2015 = Statistical yearbook An Giang province 2015 : (Sách tặng)


Số phân loại: 315.9791/ N305
(Sách Tham khảo - Tầng 4)

World development report 2013: Jobs : (Sách tặng)


Số phân loại: 331.12/ W927

Kinh tế chính trị Mác - Lênin : Những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh : (Sách tặng)


Số phân loại: 335.412/ K312

Agricultural development and land policy in Vietnam : (Sách tặng) / edited by Sally P. Marsh, T. Gordon MacAulay and Pham Van Hung


Số phân loại: 338.109597/ A278

Food policy for the poor : Expanding the research frontiers : highlights from 30 years of IFPRI research : (Sách tặng) / edited by Joachim von Braun and Rajul Pandya-Lorch


Số phân loại: 338.19/ F686

AIDS, poverty, and hunger : challenges and responses : (Sách tặng) / edited by Stuart Gillespie

Số phân loại: 362.196979/ A288

Tài liệu tập huấn triển khai chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên : Lưu hành nội bộ : (Sách tặng)


Giới thiệu toàn văn các văn bản quan trọng liên quan đến chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên. Quán triệt và hướng dẫn triển khai áp dụng chuẩn trong công tác đánh giá giám đốc.


Số phân loại: 371.2/ T103

Tài liệu tập huấn triển khai chuẩn hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học : Lưu hành nội bộ :  (Sách tặng)


Giới thiệu toàn văn các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn hiệu trưởng trường trung học. Quán triệt và hướng dẫn triển khai áp dụng đánh giá hiệu trưởng trường trung học theo chuẩn.


Số phân loại: 371.2/ T103

Tài liệu triển khai chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên : (Sách tặng)
 

Giới thiệu toàn văn các văn bản quan trọng liên quan đến chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên. Quán triệt và hướng dẫn triển khai áp dụng chuẩn trong công tác đánh giá giám đốc.


Số phân loại: 371.2/ T103

Chương trình đào tạo (chương trình chi tiết) đào tạo giáo viên trung cấp chuyên nghiệp theo học chế tín chỉ ngành giáo dục mầm non : (Sách tặng)


Giới thiệu nội dung chương trình đào tạo giáo viên trung cấp chuyên nghiệp ngành mầm non theo học chế tín chỉ; phương pháp giảng dạy; đề cương môn học; các học phần tự chọn.


Số phân loại: 372.11/ Ch561

Áp dụng chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp vào đánh giá năng lực sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp : (Sách tặng)


Giới thiệu toàn văn các văn bản về chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp. Trình bày các căn cứ, nguyên tắc xây dựng, phương pháp tiếp cận, cấu trúc và nội dung chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp. Áp dụng chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp vào đánh giá năng lực sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.


Số phân loại: 373.112/ A109

Monash : Remaking the university : (Sách tặng) / Simon Marginson


Số phân loại: 378.9451/ M327

NGÔN NGỮ

Dịch thuật : từ lý thuyết đến thực hành : (Sách tặng) / Nguyễn Thượng Hùng


Số phân loại: 418.02/ H513

English for tourism and hospitality in higher education studies : Course Book : (Sách tặng) / Hans Mol ; Terry Phillips, series editor


Số phân loại: 428.24/ M717

English for tourism and hospitality in higher education studies : Teacher's Book : (Sách tặng) / Hans Mol ; Terry Phillips, series editor


Số phân loại: 428.24/ M717

Giáo trình luyện viết tiếng Anh Writing 2 Advanced : (Sách tặng)


Số phân loại: 428.24/ Gi108w-T2

KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Algal culture collections and the environment : (Sách tặng) / Edited by: Fumie Kasai, Kunimitsu Kaya, Makoto M. Watanabe


Số phân loại: 579.8/ A394

KHOA HỌC ỨNG DỤNG

Miễn dịch học : (Sách tặng) / Vũ Triệu An, Jean Claude Homberg


Khái niệm về đáp ứng miễn dịch; Kháng nguyên, Các cơ quan miễn dịch; Những tế bào tham gia vào đáp ứng miễn dịch; Các globulin miễn dịch; Phức hợp chủ yếu hòa hợp mô - Hệ thống HLA; Hệ thống hiệu ứng huyết tương: bổ thể và kinin; Đáp ứng miễn dịch: tương tác và điều hóa; Phản ứng kết hợp kháng nguyên - kháng thể; Miễn dịch và nhiễm khuẩn; Suy giảm miễn dịch: Những phản ứng quá mẫn; Bệnh tự mẫn; Miễn dịch trong ghép; Miễn dịch trong ung thư và hội chứng tăng triển tế bào lymphô; Điều trị miễn dịch; Lịch sử và hướng phát triển của miễn dịch học.


Số phân loại: 616.079/ A105

Kỹ thuật thoại trên IP - VoIP : (Sách tặng) / Trần Công Hùng


Tổng quan điện thoại Internet. Trình bày các cấu hình VoIP; đặc tính của Internet và IP; giao thức xử lý cuộc gọi VoIP; VoIP và báo hiệu số 7; cấu trúc lớp của VoIP; thiết lập cuộc gọi - định tuyến - tính cước; khảo sát mạng điện thoại IP "gọi 171"; kỹ thuật lưu lượng; chức năng và mô hình Gateway VoIP; OpenH323 Gatekeeper; xây dựng mạng VoIP.


Số phân loại: 621.385/ H513

International symposium on plant biotechnology and its contribution to the improvement, the multiplication and the development of plants : Geneva, Switzerland, April 19--April 20, 1991 : (Sách tặng) / J. M. Mascherpa, Ch. Moncousin


Số phân loại: 631.53/ M395

Quantitative analysis of data from participatory methods in plant breeding : (Sách tặng) / Mauricio R. Bellon, Jane Reeves, editors


Số phân loại: 631.53/ Qu1

Trồng lúa : (Sách tặng) / Benito S. Vergara ; Võ Tòng Xuân, Hà Triều Hiệp dịch 

 

Tìm hiểu về cây lúa; kỹ thuật chăm sóc đồng ruộng; phân tích và cải tiến việc canh tác trồng lúa.


Số phân loại: 633.18/ V494

Kỹ thuật xây dựng nhà yến : (Sách tặng) / Lê Hữu Hoàng (chủ biên) ... (và những người khác)


Trình bày đặc điểm sinh học chim yến nhà. Hướng dẫn kỹ thuật thiết kế và xây dựng nhà yến; lắp đặt trang thiết bị nhà yến và kỹ thuật vận hành nhà yến.


Số phân loại: 636.6/ K600

Bệnh của cá trắm cỏ và biện pháp phòng trị : (Sách tặng) / Bùi Quang Tề


Tìm hiểu chung về bệnh của cá; các biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho cá; thuốc và phương pháp dùng thuốc cho cá; bệnh truyền nhiễm ở cá trắm cỏ; bệnh ký sinh trùng ở cá trắm cỏ; bệnh do môi trường.


Số phân loại: 639.31/ T250

VĂN HỌC

English literature = Văn chương Anh : (Sách tặng) / Phạm Tấn


Số phân loại: 820.9/ T121

Cho dù Nátita... : (Sách tặng) / Đông Triều


Số phân loại: 895.92214/ Tr309

Mùa hè máu lửa : (Sách tặng)


Số phân loại: 895.92234/ M501

Lặng lẽ bến chờ : Tập truyện ngắn : (Sách tặng) / Nguyễn Ngọc Đào Uyên


Số phân loại: 895.92234/ U527

Nỗi buồn trong suốt : Tản văn : (Sách tặng) / Nguyễn Đức Phú Thọ


Số phân loại: 895.92234/ Th400

Ký ức học trò : (Sách tặng)


Số phân loại: 895.92234/ K600

Một thời hoa mẫu đơn : Tiểu thuyết : (Sách tặng) / Nguyễn Quang Thân


Số phân loại: 895.92234/ Th121

 

Giới thiệu sách mới tháng 1/2017

T4, 28/12/2016 - 11:44sa

 

TỔNG LOẠI

Linux-Mandrake operating system 7.0: User guide and reference manual : (Sách tặng)


Số phân loại: 005.43/ L735

KHOA HỌC XÃ HỘI

Từ điển khoa học xã hội Anh - Pháp - Việt = English-French-Vietnamese dictionary of social sciences = Dictionnaire Anglais-Français-Vietnamien des sciences sociales : (Sách tặng) / Nguyễn Thượng Hùng


Số phân loại: 300.3/ H513
(Sách Tham khảo - Tầng 4)

Niên giám thống kê tỉnh An Giang 2015 = Statistical yearbook An Giang province 2015 : (Sách tặng)


Số phân loại: 315.9791/ N305
(Sách Tham khảo - Tầng 4)

World development report 2013: Jobs : (Sách tặng)


Số phân loại: 331.12/ W927

Kinh tế chính trị Mác - Lênin : Những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh : (Sách tặng)


Số phân loại: 335.412/ K312

Agricultural development and land policy in Vietnam : (Sách tặng) / edited by Sally P. Marsh, T. Gordon MacAulay and Pham Van Hung


Số phân loại: 338.109597/ A278

Food policy for the poor : Expanding the research frontiers : highlights from 30 years of IFPRI research : (Sách tặng) / edited by Joachim von Braun and Rajul Pandya-Lorch


Số phân loại: 338.19/ F686

AIDS, poverty, and hunger : challenges and responses : (Sách tặng) / edited by Stuart Gillespie

Số phân loại: 362.196979/ A288

Tài liệu tập huấn triển khai chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên : Lưu hành nội bộ : (Sách tặng)


Giới thiệu toàn văn các văn bản quan trọng liên quan đến chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên. Quán triệt và hướng dẫn triển khai áp dụng chuẩn trong công tác đánh giá giám đốc.


Số phân loại: 371.2/ T103

Tài liệu tập huấn triển khai chuẩn hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học : Lưu hành nội bộ :  (Sách tặng)


Giới thiệu toàn văn các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn hiệu trưởng trường trung học. Quán triệt và hướng dẫn triển khai áp dụng đánh giá hiệu trưởng trường trung học theo chuẩn.


Số phân loại: 371.2/ T103

Tài liệu triển khai chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên : (Sách tặng)
 

Giới thiệu toàn văn các văn bản quan trọng liên quan đến chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên. Quán triệt và hướng dẫn triển khai áp dụng chuẩn trong công tác đánh giá giám đốc.


Số phân loại: 371.2/ T103

Chương trình đào tạo (chương trình chi tiết) đào tạo giáo viên trung cấp chuyên nghiệp theo học chế tín chỉ ngành giáo dục mầm non : (Sách tặng)


Giới thiệu nội dung chương trình đào tạo giáo viên trung cấp chuyên nghiệp ngành mầm non theo học chế tín chỉ; phương pháp giảng dạy; đề cương môn học; các học phần tự chọn.


Số phân loại: 372.11/ Ch561

Áp dụng chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp vào đánh giá năng lực sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp : (Sách tặng)


Giới thiệu toàn văn các văn bản về chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp. Trình bày các căn cứ, nguyên tắc xây dựng, phương pháp tiếp cận, cấu trúc và nội dung chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp. Áp dụng chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp vào đánh giá năng lực sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.


Số phân loại: 373.112/ A109

Monash : Remaking the university : (Sách tặng) / Simon Marginson


Số phân loại: 378.9451/ M327

NGÔN NGỮ

Dịch thuật : từ lý thuyết đến thực hành : (Sách tặng) / Nguyễn Thượng Hùng


Số phân loại: 418.02/ H513

English for tourism and hospitality in higher education studies : Course Book : (Sách tặng) / Hans Mol ; Terry Phillips, series editor


Số phân loại: 428.24/ M717

English for tourism and hospitality in higher education studies : Teacher's Book : (Sách tặng) / Hans Mol ; Terry Phillips, series editor


Số phân loại: 428.24/ M717

Giáo trình luyện viết tiếng Anh Writing 2 Advanced : (Sách tặng)


Số phân loại: 428.24/ Gi108w-T2

KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Algal culture collections and the environment : (Sách tặng) / Edited by: Fumie Kasai, Kunimitsu Kaya, Makoto M. Watanabe


Số phân loại: 579.8/ A394

KHOA HỌC ỨNG DỤNG

Miễn dịch học : (Sách tặng) / Vũ Triệu An, Jean Claude Homberg


Khái niệm về đáp ứng miễn dịch; Kháng nguyên, Các cơ quan miễn dịch; Những tế bào tham gia vào đáp ứng miễn dịch; Các globulin miễn dịch; Phức hợp chủ yếu hòa hợp mô - Hệ thống HLA; Hệ thống hiệu ứng huyết tương: bổ thể và kinin; Đáp ứng miễn dịch: tương tác và điều hóa; Phản ứng kết hợp kháng nguyên - kháng thể; Miễn dịch và nhiễm khuẩn; Suy giảm miễn dịch: Những phản ứng quá mẫn; Bệnh tự mẫn; Miễn dịch trong ghép; Miễn dịch trong ung thư và hội chứng tăng triển tế bào lymphô; Điều trị miễn dịch; Lịch sử và hướng phát triển của miễn dịch học.


Số phân loại: 616.079/ A105

Kỹ thuật thoại trên IP - VoIP : (Sách tặng) / Trần Công Hùng


Tổng quan điện thoại Internet. Trình bày các cấu hình VoIP; đặc tính của Internet và IP; giao thức xử lý cuộc gọi VoIP; VoIP và báo hiệu số 7; cấu trúc lớp của VoIP; thiết lập cuộc gọi - định tuyến - tính cước; khảo sát mạng điện thoại IP "gọi 171"; kỹ thuật lưu lượng; chức năng và mô hình Gateway VoIP; OpenH323 Gatekeeper; xây dựng mạng VoIP.


Số phân loại: 621.385/ H513

International symposium on plant biotechnology and its contribution to the improvement, the multiplication and the development of plants : Geneva, Switzerland, April 19--April 20, 1991 : (Sách tặng) / J. M. Mascherpa, Ch. Moncousin


Số phân loại: 631.53/ M395

Quantitative analysis of data from participatory methods in plant breeding : (Sách tặng) / Mauricio R. Bellon, Jane Reeves, editors


Số phân loại: 631.53/ Qu1

Trồng lúa : (Sách tặng) / Benito S. Vergara ; Võ Tòng Xuân, Hà Triều Hiệp dịch 

 

Tìm hiểu về cây lúa; kỹ thuật chăm sóc đồng ruộng; phân tích và cải tiến việc canh tác trồng lúa.


Số phân loại: 633.18/ V494

Kỹ thuật xây dựng nhà yến : (Sách tặng) / Lê Hữu Hoàng (chủ biên) ... (và những người khác)


Trình bày đặc điểm sinh học chim yến nhà. Hướng dẫn kỹ thuật thiết kế và xây dựng nhà yến; lắp đặt trang thiết bị nhà yến và kỹ thuật vận hành nhà yến.


Số phân loại: 636.6/ K600

Bệnh của cá trắm cỏ và biện pháp phòng trị : (Sách tặng) / Bùi Quang Tề


Tìm hiểu chung về bệnh của cá; các biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho cá; thuốc và phương pháp dùng thuốc cho cá; bệnh truyền nhiễm ở cá trắm cỏ; bệnh ký sinh trùng ở cá trắm cỏ; bệnh do môi trường.


Số phân loại: 639.31/ T250

VĂN HỌC

English literature = Văn chương Anh : (Sách tặng) / Phạm Tấn


Số phân loại: 820.9/ T121

Cho dù Nátita... : (Sách tặng) / Đông Triều


Số phân loại: 895.92214/ Tr309

Mùa hè máu lửa : (Sách tặng)


Số phân loại: 895.92234/ M501

Lặng lẽ bến chờ : Tập truyện ngắn : (Sách tặng) / Nguyễn Ngọc Đào Uyên


Số phân loại: 895.92234/ U527

Nỗi buồn trong suốt : Tản văn : (Sách tặng) / Nguyễn Đức Phú Thọ


Số phân loại: 895.92234/ Th400

Ký ức học trò : (Sách tặng)


Số phân loại: 895.92234/ K600

Một thời hoa mẫu đơn : Tiểu thuyết : (Sách tặng) / Nguyễn Quang Thân


Số phân loại: 895.92234/ Th121

 

Thư viện Trường Đại học An Giang nhận Bằng khen của Trung ương Hội Thư viện Việt Nam

T6, 16/12/2016 - 8:12sa

Vừa qua, tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Thư viện Việt Nam khóa III (nhiệm kỳ 2016-2021), Thư viện Trường Đại học An Giang vinh dự là 1 trong 4 đơn vị thuộc Hội Liên hiệp Thư viện các trường đại học phía Nam (Vilasal) được nhận Bằng khen của Trung ương Hội về thành tích xuất sắc trong hoạt động, góp phần phát triển Hội Thư viện Việt Nam giai đoạn 2011-2016.

ThS.Nguyễn Thị Bích Châu - Giám đốc Thư viện Trường ĐHAG (thứ 5 từ phải sang) nhận Bằng khen của Trung ương Hội Thư viện Việt Nam

Trong 5 năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, sự ủng hộ của các đơn vị và độc giả, Thư viện đã không ngừng phát triển về nhân lực và cơ sở vật chất, phát huy tốt nhiệm vụ của mình, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên Trường Đại học An Giang. Trong tất cả các lĩnh vực chuyên môn, Thư viện đều hoàn thành xuất sắc và vượt chỉ tiêu đề ra ở từng năm học; đặc biệt, Thư viện có nhiều sáng tạo trong công tác ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút trên 1,2 triệu lượt truy cập website mỗi năm.

Ngoài ra, Thư viện còn có nhiều dịch vụ hấp dẫn, được bạn đọc của Trường đánh giá cao về chất lượng như: dịch vụ bổ sung tài liệu theo yêu cầu bạn đọc, dịch vụ hỗ trợ tìm tin, dịch vụ tư vấn kỹ thuật, chính sách bạn đọc đặc biệt,...

Bên cạnh công tác chuyên môn, nhằm kết nối với các đơn vị bạn, Thư viện còn tổ chức các Hội nghị - Hội thảo cho cán bộ chuyên môn trong và ngoài Tỉnh như: Hội thảo "Ứng dụng phần mềm KOHA và nguồn tài liệu mở" cho 60 Thư viện đại học - cao đẳng cả nước; Hội thảo "Nâng cao năng lực thông tin cho cán bộ Thư viện và giáo viên của Tỉnh An Giang"; ... Hàng năm, Thư viện còn triển khai nhiều báo cáo chuyên đề hấp dẫn dành cho giảng viên - sinh viên của Trường ĐHAG như: kỹ năng thông tin và học tập theo học chế tín chỉ; kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu điện tử; kỹ năng tác nghiệp báo chí;...

Song song đó, Thư viện luôn duy trì mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tìm kiếm các nguồn tài trợ để nâng cao chất lượng các dịch vụ và nguồn tin. Trong những năm qua, Thư viện đã đón nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan Thư viện, tiếp nhận nhiều góc văn hóa do Đại sứ quán các nước trao tặng như: Úc, Hoa Kỳ, Đức, Ấn Độ, Indonesia,...

Đặc biệt, đầu năm học này, ThS. Nguyễn Thị Bích Châu - Giám đốc Thư viện Trường vinh dự là đại biểu duy nhất của Việt Nam được nhận học bổng toàn phần tham dự Hội nghị Liên hiệp Hội Thư viện Thế giới (IFLA) tại Hoa Kỳ, góp phần cùng đoàn Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế về hoạt động thư viện trong các trường đại học nước ta.

Theo ông Phạm Thế Khang - Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam, những thành tích của Thư viện Trường Đại học An Giang đã góp phần nâng cao uy tín Nhà trường và đổi mới hoạt động nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam. Hội Thư viện ghi nhận và đánh giá cao các hoạt động nổi bật của Thư viện Trường trong những năm qua.

Giám đốc Thư viện Trường ĐHAG (thứ 3 từ trái sang) và đại diện một số Thư viện khu vực phía Nam chụp ảnh lưu niệm cùng Vụ trưởng Vụ Thư viện - Vũ Dương Thúy Ngà và Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam - Phạm Thế Khang

Hy vọng rằng trong những năm tiếp theo, Thư viện Trường Đại học An Giang sẽ ngày càng phát triển, nâng cao hơn nữa hoạt động, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đào tạo của Nhà trường.

Anh Thư (TV)

Nguồn https://www.agu.edu.vn/?q=node/2518

 

Thư viện Trường Đại học An Giang nhận Bằng khen của Trung ương Hội Thư viện Việt Nam

T6, 16/12/2016 - 8:12sa

Vừa qua, tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Thư viện Việt Nam khóa III (nhiệm kỳ 2016-2021), Thư viện Trường Đại học An Giang vinh dự là 1 trong 4 đơn vị thuộc Hội Liên hiệp Thư viện các trường đại học phía Nam (Vilasal) được nhận Bằng khen của Trung ương Hội về thành tích xuất sắc trong hoạt động, góp phần phát triển Hội Thư viện Việt Nam giai đoạn 2011-2016.

ThS.Nguyễn Thị Bích Châu - Giám đốc Thư viện Trường ĐHAG (thứ 5 từ phải sang) nhận Bằng khen của Trung ương Hội Thư viện Việt Nam

Trong 5 năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, sự ủng hộ của các đơn vị và độc giả, Thư viện đã không ngừng phát triển về nhân lực và cơ sở vật chất, phát huy tốt nhiệm vụ của mình, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên Trường Đại học An Giang. Trong tất cả các lĩnh vực chuyên môn, Thư viện đều hoàn thành xuất sắc và vượt chỉ tiêu đề ra ở từng năm học; đặc biệt, Thư viện có nhiều sáng tạo trong công tác ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút trên 1,2 triệu lượt truy cập website mỗi năm.

Ngoài ra, Thư viện còn có nhiều dịch vụ hấp dẫn, được bạn đọc của Trường đánh giá cao về chất lượng như: dịch vụ bổ sung tài liệu theo yêu cầu bạn đọc, dịch vụ hỗ trợ tìm tin, dịch vụ tư vấn kỹ thuật, chính sách bạn đọc đặc biệt,...

Bên cạnh công tác chuyên môn, nhằm kết nối với các đơn vị bạn, Thư viện còn tổ chức các Hội nghị - Hội thảo cho cán bộ chuyên môn trong và ngoài Tỉnh như: Hội thảo "Ứng dụng phần mềm KOHA và nguồn tài liệu mở" cho 60 Thư viện đại học - cao đẳng cả nước; Hội thảo "Nâng cao năng lực thông tin cho cán bộ Thư viện và giáo viên của Tỉnh An Giang"; ... Hàng năm, Thư viện còn triển khai nhiều báo cáo chuyên đề hấp dẫn dành cho giảng viên - sinh viên của Trường ĐHAG như: kỹ năng thông tin và học tập theo học chế tín chỉ; kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu điện tử; kỹ năng tác nghiệp báo chí;...

Song song đó, Thư viện luôn duy trì mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tìm kiếm các nguồn tài trợ để nâng cao chất lượng các dịch vụ và nguồn tin. Trong những năm qua, Thư viện đã đón nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan Thư viện, tiếp nhận nhiều góc văn hóa do Đại sứ quán các nước trao tặng như: Úc, Hoa Kỳ, Đức, Ấn Độ, Indonesia,...

Đặc biệt, đầu năm học này, ThS. Nguyễn Thị Bích Châu - Giám đốc Thư viện Trường vinh dự là đại biểu duy nhất của Việt Nam được nhận học bổng toàn phần tham dự Hội nghị Liên hiệp Hội Thư viện Thế giới (IFLA) tại Hoa Kỳ, góp phần cùng đoàn Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế về hoạt động thư viện trong các trường đại học nước ta.

Theo ông Phạm Thế Khang - Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam, những thành tích của Thư viện Trường Đại học An Giang đã góp phần nâng cao uy tín Nhà trường và đổi mới hoạt động nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam. Hội Thư viện ghi nhận và đánh giá cao các hoạt động nổi bật của Thư viện Trường trong những năm qua.

Giám đốc Thư viện Trường ĐHAG (thứ 3 từ trái sang) và đại diện một số Thư viện khu vực phía Nam chụp ảnh lưu niệm cùng Vụ trưởng Vụ Thư viện - Vũ Dương Thúy Ngà và Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam - Phạm Thế Khang

Hy vọng rằng trong những năm tiếp theo, Thư viện Trường Đại học An Giang sẽ ngày càng phát triển, nâng cao hơn nữa hoạt động, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đào tạo của Nhà trường.

Anh Thư (TV)

Nguồn https://www.agu.edu.vn/?q=node/2518

 

Tài liệu giảng dạy và tài liệu tham khảo chuyên ngành du lịch

T5, 15/12/2016 - 8:09sa
Giới thiệu tài liệu giảng dạy và tài liệu tham khảo chuyên ngành du lịch  

Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam VTOS (Vietnam Tourism Occupational Skills Standards) phiên bản mới (2013) đã chính thức được Tổng cục Du lịch phê duyệt để triển khai các hoạt động đào tạo trong khuôn khổ Dự án EU. VTOS được hiểu là những tiêu chuẩn thực hiện công việc cần phải đạt được và những kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả. Bộ tiêu chuẩn phiên bản mới được xây dựng dựa trên sáu lĩnh vực nghề chính đã được xây dựng từ Dự án trước là Lễ tân, Phục vụ buồng, Phục vụ nhà hàng, Chế biến món ăn, Điều hành Du lịch & Đại lý lữ hành và Hướng dẫn du lịch. Ngoài ra, Bộ tiêu chuẩn cũng được xây dựng mở rộng cho 4 lĩnh vực nghề chuyên biệt đáp ứng các nhu cầu cao của ngành gồm Thuyết minh du lịch, Phục vụ trên tàu thủy du lịch, Quản lý khách sạn và Vận hành cơ sở lưu trú nhỏ.

Hiện tại, Dự án EU đã hoàn chỉnh 10 bộ tiêu chuẩn này bằng tiếng Anh và đăng tải trên website của Dự án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tác trong Ngành Du lịch có thể tham khảo.

Bạn đọc có thể truy cập vào trang web sau để download tài liệu:

http://esrt.vn/default.aspx?portalid=1&tabid=344&itemid=683

Tài liệu giảng dạy và tài liệu tham khảo chuyên ngành du lịch

T5, 15/12/2016 - 8:09sa
Giới thiệu tài liệu giảng dạy và tài liệu tham khảo chuyên ngành du lịch  

Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam VTOS (Vietnam Tourism Occupational Skills Standards) phiên bản mới (2013) đã chính thức được Tổng cục Du lịch phê duyệt để triển khai các hoạt động đào tạo trong khuôn khổ Dự án EU. VTOS được hiểu là những tiêu chuẩn thực hiện công việc cần phải đạt được và những kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả. Bộ tiêu chuẩn phiên bản mới được xây dựng dựa trên sáu lĩnh vực nghề chính đã được xây dựng từ Dự án trước là Lễ tân, Phục vụ buồng, Phục vụ nhà hàng, Chế biến món ăn, Điều hành Du lịch & Đại lý lữ hành và Hướng dẫn du lịch. Ngoài ra, Bộ tiêu chuẩn cũng được xây dựng mở rộng cho 4 lĩnh vực nghề chuyên biệt đáp ứng các nhu cầu cao của ngành gồm Thuyết minh du lịch, Phục vụ trên tàu thủy du lịch, Quản lý khách sạn và Vận hành cơ sở lưu trú nhỏ.

Hiện tại, Dự án EU đã hoàn chỉnh 10 bộ tiêu chuẩn này bằng tiếng Anh và đăng tải trên website của Dự án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tác trong Ngành Du lịch có thể tham khảo.

Bạn đọc có thể truy cập vào trang web sau để download tài liệu:

http://esrt.vn/default.aspx?portalid=1&tabid=344&itemid=683

Giới thiệu sách: "Bí mật của may mắn"

T6, 09/12/2016 - 10:09sa
BÍ MẬT CỦA MAI MẮN
  Kho mượn đọc - Thư viện Đại học An Giang
Số phân loại: 158.1/ R875

Trong những lời chúc trao nhau, có lẽ cụm từ “may mắn” và “hạnh phúc” là điều mà nhiều người hy vọng mình nhận được nhất, và tôi cũng vậy. Bởi theo tôi, phúc lành ấy là ân huệ mà cuộc đời chỉ dành tặng cho một số người. Thế nhưng, suy nghĩ ấy của tôi đã thay đổi 180 độ khi đọc quyển sách của 2 tác giả Alex Rovira và Fernando Trías de Bes.

Quyển sách nho nhỏ nằm khiêm tốn giữa những chồng sách trong tiệm thu hút tôi bằng cái tên lạ lẫm – “Bí mật của may mắn”. Thoạt nhiên khi trông thấy, tôi bỗng bật cười vì nghĩ rằng “nếu ai cũng biết được bí mật này thì mọi người đều may mắn hết rồi”. Thế nhưng, vì tò mò, tôi vẫn chọn nó.

Quyển sách màu xanh biển dịu mát, giữa trang bìa có ảnh một nhánh xa trục thảo (cỏ bốn lá) tạo cảm giác yên bình và gần gũi. Lời mở đầu được Nhà xuất bản First News viết trang trọng “Cuốn sách được xuất bản đầu tiên ở Tây Ban Nha vào tháng 2/2004. Chỉ trong vòng hai tuần, Good Luck đã vượt lên dẫn đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất ở Tây Ban Nha, Nhật Bản, Brazil, Mỹ. Hàn Quốc, Đài Loan và đang lan tỏa nhanh chóng sang các quốc gia, châu lục khác những tháng đầu năm 2005. Theo các công ty bản quyền châu Âu, Good Luck là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử hiện đại bán được bản quyền dịch ra 15 ngôn ngữ trên thế giới trước khi được xuất bản ở bất kỳ quốc gia nào (chỉ được truyền miệng và qua Internet)”.

 “Bí mật của may mắn” được mở ra với cuộc hội ngộ kỳ lạ và đầy cảm động sau 50 năm xa cách giữa hai ông già - Max và Jim - Họ đã từng là những người bạn thân thiết trong những năm tuổi trẻ. Ở quãng đường gần cuối cuộc đời, họ gặp nhau trong ngỡ ngàng bởi hiện tại, Max đã là người thành công và có một cuộc sống hạnh phúc dẫu lúc trước ông khởi đầu từ hai bàn tay trắng. Trong khi đó, Jim lại đang đối mặt với những vất vả, chật vật của cuộc đời tuy lúc khởi đầu ông đã được cuộc sống ưu đãi rất nhiều. Chia sẻ với người bạn thân tình, Max cho biết bí quyết hạnh phúc của mình là từ câu chuyện mà ông của Max đã truyền lại. Câu chuyện mở ra từ đây mang đầy màu sắc huyền thoại.

Đó là hành trình đi tìm sự may mắn của 2 kỵ sĩ: áo trắng và áo đen. Để sở hữu những cây xa trục thảo (cỏ bốn lá) mang đầy may mắn và hạnh phúc do Phù thủy tối cao ban tặng, họ đã đến những nơi như nhau, trò chuyện với những con người như nhau; nhưng suy nghĩ và hành động của cả hai thì hoàn toàn trái ngược. Khi biết được những điều kiện sống không đâu có được của xa trục thảo, trong lúc kỵ sĩ áo đen đi tìm sự trợ giúp của người khác và hoàn toàn thất vọng vì chẳng ai có thể tạo ra những điều kiện sống ấy thì kỵ sĩ áo trắng - bằng tinh thần lạc quan của mình - đã tự tay chuẩn bị những điều kiện cần thiết đồng thời loại bỏ những tác động xấu sẽ ảnh hưởng đến sự sống của xa trục thảo. Kết quả, khi Phù thủy tối cao rải hằng hà sa số hạt giống xa trục thảo xuống khắp thế gian, chỉ có mảnh đất nho nhỏ mà kỵ sĩ áo trắng đã tạo ra là cây có thể nảy mầm và đâm chồi nảy lộc. Trong đoạn kết đầy bất ngờ ấy, “Bí mật của may mắn” đã được “bật mí” một cách trọn vẹn.

May mắn - đó là một hành trình mà quyển sách đã hướng dẫn chi tiết các bước để chinh phục và tiếp nhận nó, qua một câu chuyện kỳ bí và đầy sức lôi cuốn.

Qua quyển sách, người đọc sẽ càng khắc sâu hơn những bài học vô giá và chân lý từ muôn đời nay: Sự may mắn đều được ban tặng cho tất cả mọi người và nó xuất hiện khắp nơi trong cuộc sống chúng ta; chính chúng ta phải tự tạo ra những điều kiện cần và đủ đồng thời loại bỏ tất thảy những yếu tố tác động xấu để may mắn ở lại với mình.

Với cách truyền đạt thông điệp mới mẻ của Alex Rovira và Fernando Trías de Bes, câu chuyện trong “Bí mật của may mắn” như một bộ phim sống động, truyền cho người xem niềm tin, hy vọng và khán giả sẽ tự chiêm nghiệm, lý giải được tại sao nhiều người luôn may mắn, hạnh phúc trong khi người khác thì không có được điều đó. Tin rằng khi đọc quyển sách này và tiếp nhận câu chuyện từ nó, người đọc sẽ có thêm động lực và bắt tay ngay vào hành trình giữ lại may mắn bên mình.

Thu Nguyên - TV

Giới thiệu sách: "Bí mật của may mắn"

T6, 09/12/2016 - 10:09sa
BÍ MẬT CỦA MAI MẮN
  Kho mượn đọc - Thư viện Đại học An Giang
Số phân loại: 158.1/ R875

Trong những lời chúc trao nhau, có lẽ cụm từ “may mắn” và “hạnh phúc” là điều mà nhiều người hy vọng mình nhận được nhất, và tôi cũng vậy. Bởi theo tôi, phúc lành ấy là ân huệ mà cuộc đời chỉ dành tặng cho một số người. Thế nhưng, suy nghĩ ấy của tôi đã thay đổi 180 độ khi đọc quyển sách của 2 tác giả Alex Rovira và Fernando Trías de Bes.

Quyển sách nho nhỏ nằm khiêm tốn giữa những chồng sách trong tiệm thu hút tôi bằng cái tên lạ lẫm – “Bí mật của may mắn”. Thoạt nhiên khi trông thấy, tôi bỗng bật cười vì nghĩ rằng “nếu ai cũng biết được bí mật này thì mọi người đều may mắn hết rồi”. Thế nhưng, vì tò mò, tôi vẫn chọn nó.

Quyển sách màu xanh biển dịu mát, giữa trang bìa có ảnh một nhánh xa trục thảo (cỏ bốn lá) tạo cảm giác yên bình và gần gũi. Lời mở đầu được Nhà xuất bản First News viết trang trọng “Cuốn sách được xuất bản đầu tiên ở Tây Ban Nha vào tháng 2/2004. Chỉ trong vòng hai tuần, Good Luck đã vượt lên dẫn đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất ở Tây Ban Nha, Nhật Bản, Brazil, Mỹ. Hàn Quốc, Đài Loan và đang lan tỏa nhanh chóng sang các quốc gia, châu lục khác những tháng đầu năm 2005. Theo các công ty bản quyền châu Âu, Good Luck là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử hiện đại bán được bản quyền dịch ra 15 ngôn ngữ trên thế giới trước khi được xuất bản ở bất kỳ quốc gia nào (chỉ được truyền miệng và qua Internet)”.

 “Bí mật của may mắn” được mở ra với cuộc hội ngộ kỳ lạ và đầy cảm động sau 50 năm xa cách giữa hai ông già - Max và Jim - Họ đã từng là những người bạn thân thiết trong những năm tuổi trẻ. Ở quãng đường gần cuối cuộc đời, họ gặp nhau trong ngỡ ngàng bởi hiện tại, Max đã là người thành công và có một cuộc sống hạnh phúc dẫu lúc trước ông khởi đầu từ hai bàn tay trắng. Trong khi đó, Jim lại đang đối mặt với những vất vả, chật vật của cuộc đời tuy lúc khởi đầu ông đã được cuộc sống ưu đãi rất nhiều. Chia sẻ với người bạn thân tình, Max cho biết bí quyết hạnh phúc của mình là từ câu chuyện mà ông của Max đã truyền lại. Câu chuyện mở ra từ đây mang đầy màu sắc huyền thoại.

Đó là hành trình đi tìm sự may mắn của 2 kỵ sĩ: áo trắng và áo đen. Để sở hữu những cây xa trục thảo (cỏ bốn lá) mang đầy may mắn và hạnh phúc do Phù thủy tối cao ban tặng, họ đã đến những nơi như nhau, trò chuyện với những con người như nhau; nhưng suy nghĩ và hành động của cả hai thì hoàn toàn trái ngược. Khi biết được những điều kiện sống không đâu có được của xa trục thảo, trong lúc kỵ sĩ áo đen đi tìm sự trợ giúp của người khác và hoàn toàn thất vọng vì chẳng ai có thể tạo ra những điều kiện sống ấy thì kỵ sĩ áo trắng - bằng tinh thần lạc quan của mình - đã tự tay chuẩn bị những điều kiện cần thiết đồng thời loại bỏ những tác động xấu sẽ ảnh hưởng đến sự sống của xa trục thảo. Kết quả, khi Phù thủy tối cao rải hằng hà sa số hạt giống xa trục thảo xuống khắp thế gian, chỉ có mảnh đất nho nhỏ mà kỵ sĩ áo trắng đã tạo ra là cây có thể nảy mầm và đâm chồi nảy lộc. Trong đoạn kết đầy bất ngờ ấy, “Bí mật của may mắn” đã được “bật mí” một cách trọn vẹn.

May mắn - đó là một hành trình mà quyển sách đã hướng dẫn chi tiết các bước để chinh phục và tiếp nhận nó, qua một câu chuyện kỳ bí và đầy sức lôi cuốn.

Qua quyển sách, người đọc sẽ càng khắc sâu hơn những bài học vô giá và chân lý từ muôn đời nay: Sự may mắn đều được ban tặng cho tất cả mọi người và nó xuất hiện khắp nơi trong cuộc sống chúng ta; chính chúng ta phải tự tạo ra những điều kiện cần và đủ đồng thời loại bỏ tất thảy những yếu tố tác động xấu để may mắn ở lại với mình.

Với cách truyền đạt thông điệp mới mẻ của Alex Rovira và Fernando Trías de Bes, câu chuyện trong “Bí mật của may mắn” như một bộ phim sống động, truyền cho người xem niềm tin, hy vọng và khán giả sẽ tự chiêm nghiệm, lý giải được tại sao nhiều người luôn may mắn, hạnh phúc trong khi người khác thì không có được điều đó. Tin rằng khi đọc quyển sách này và tiếp nhận câu chuyện từ nó, người đọc sẽ có thêm động lực và bắt tay ngay vào hành trình giữ lại may mắn bên mình.

Thu Nguyên - TV